Chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện về hạ tầng công nghệ, dữ liệu hay những nền tảng thông minh. Ở trung tâm của tiến trình ấy là con người – những công dân có tri thức số, kỹ năng số và khả năng làm chủ công nghệ. Hưởng ứng Ngày Công dân số Việt Nam 15/10, yêu cầu đặt ra không chỉ là phổ cập công nghệ, mà còn phải kiến tạo một xã hội số toàn diện, bao trùm, nơi mọi người dân đều có cơ hội tham gia, sáng tạo và thụ hưởng những thành quả của chuyển đổi số.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân tham quan các gian hàng công nghệ tại Triển lãm Đô thị thông minh châu Á (Smart City Asia 2026) do Viện Sáng tạo và Chuyển đổi số phối hợp với một số đơn vị tổ chức tháng 10 /2026 tại Hà Nội
Công dân số – Nền tảng của chuyển đổi số quốc gia
Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc phương thức tổ chức và vận hành của các quốc gia, từ quản trị nhà nước, hoạt động kinh tế đến giáo dục, y tế và đời sống thường nhật. Dữ liệu trở thành nguồn lực phát triển mới; công nghệ số mở rộng không gian tăng trưởng; trí tuệ nhân tạo từng bước thay đổi cách con người làm việc, học tập và sáng tạo.
Trong dòng chảy ấy, Việt Nam xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số được đặt trong mối quan hệ hữu cơ, hướng tới xây dựng một quốc gia số hiện đại, thịnh vượng.
Tuy nhiên, một quốc gia không thể trở thành quốc gia số chỉ bằng việc đầu tư trung tâm dữ liệu, triển khai các nền tảng công nghệ hay số hóa thủ tục hành chính. Hạ tầng có thể được xây dựng bằng nguồn lực tài chính, công nghệ có thể được mua sắm hoặc chuyển giao, nhưng năng lực số của con người phải được hình thành thông qua quá trình học tập, thích ứng và thực hành lâu dài.
Một nền tảng dịch vụ công trực tuyến dù hiện đại cũng khó phát huy hiệu quả nếu người dân không biết sử dụng. Một thị trường thương mại điện tử dù phát triển mạnh mẽ cũng chưa thể tạo ra sự bao trùm nếu hàng triệu hộ kinh doanh nhỏ chưa có đủ kỹ năng tham gia.
Bởi vậy, xây dựng công dân số phải được nhìn nhận là nhiệm vụ nền tảng của chuyển đổi số quốc gia, chứ không chỉ là kết quả của quá trình phát triển công nghệ.
Công dân số không đơn thuần là người có điện thoại thông minh hay tài khoản định danh điện tử, mà phải có năng lực tiếp cận, sử dụng và làm chủ công nghệ; biết khai thác dữ liệu, dịch vụ số phục vụ cuộc sống; đồng thời có ý thức bảo vệ bản thân và thực hiện trách nhiệm công dân trên không gian mạng.
Điểm hội tụ của Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số
Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số là ba trụ cột quan trọng của chuyển đổi số quốc gia. Mỗi trụ cột có chức năng riêng nhưng đều có một điểm chung: con người vừa là chủ thể tham gia, vừa là đối tượng phục vụ và thụ hưởng.
Đối với Chính phủ số, mục tiêu cuối cùng không phải là có bao nhiêu thủ tục được đưa lên môi trường mạng, mà là người dân và doanh nghiệp được phục vụ tốt hơn như thế nào. Khi công dân có định danh số, kỹ năng sử dụng dịch vụ công trực tuyến và khả năng tương tác với cơ quan nhà nước trên môi trường số, khoảng cách giữa chính quyền và người dân được thu hẹp, chi phí xã hội được tiết giảm, chất lượng phục vụ được nâng cao.
Đối với kinh tế số, công dân không chỉ là người tiêu dùng dịch vụ số mà còn là người lao động, người sản xuất, kinh doanh và sáng tạo ra giá trị. Một hộ kinh doanh có thể mở rộng thị trường thông qua thương mại điện tử; một hợp tác xã có thể ứng dụng công nghệ trong quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc; một doanh nghiệp nhỏ có thể tận dụng nền tảng số để cải tiến quản trị, nâng cao năng suất.
Sức mạnh thực sự của kinh tế số vì vậy không chỉ nằm ở các tập đoàn công nghệ lớn, mà còn được hình thành từ sự tham gia của hàng triệu người dân, hộ kinh doanh, hợp tác xã và doanh nghiệp.
Đối với xã hội số, yêu cầu đặt ra là bảo đảm mọi người dân, không phân biệt tuổi tác, địa bàn cư trú hay điều kiện kinh tế, đều có cơ hội tiếp cận và hưởng lợi từ công nghệ. Người cao tuổi có thể sử dụng dịch vụ y tế số; học sinh vùng sâu, vùng xa có thể tiếp cận học liệu chất lượng; người khuyết tật có thể sử dụng công nghệ hỗ trợ học tập và làm việc.
Ba trụ cột ấy không tồn tại tách biệt mà liên kết với nhau thông qua năng lực số của con người. Công dân số càng phát triển, Chính phủ số càng có điều kiện phục vụ hiệu quả, kinh tế số càng mở rộng nguồn lực tăng trưởng và xã hội số càng trở nên bao trùm, bền vững.
Không để khoảng cách số trở thành bất bình đẳng mới
Một trong những nghịch lý của kỷ nguyên số là công nghệ càng phát triển nhanh, nguy cơ phân hóa về khả năng tiếp cận và sử dụng công nghệ càng có thể gia tăng.
Khoảng cách số ngày nay không chỉ được đo bằng việc một người có Internet hay điện thoại thông minh hay không, mà quan trọng hơn là họ có đủ kiến thức, kỹ năng để khai thác công nghệ hiệu quả, an toàn và có ích hay không.
Giữa người biết sử dụng trí tuệ nhân tạo để nâng cao năng suất lao động và người chưa biết thực hiện một giao dịch điện tử cơ bản là khoảng cách lớn về cơ hội phát triển. Giữa doanh nghiệp quản trị bằng dữ liệu và hộ kinh doanh vẫn vận hành thủ công là sự khác biệt ngày càng rõ về năng lực cạnh tranh.
Nếu thiếu những chính sách hỗ trợ phù hợp, chuyển đổi số có thể tạo thêm rào cản đối với người cao tuổi, người khuyết tật, người có thu nhập thấp và đồng bào vùng sâu, vùng xa.
Bởi vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là phổ cập hạ tầng số mà còn phải phổ cập năng lực số; không chỉ giúp người dân tiếp cận dịch vụ số mà còn phải giúp họ sử dụng dịch vụ một cách độc lập, thuận tiện và an toàn.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ, công dân số còn cần có tư duy phản biện trước thông tin số, ý thức bảo vệ dữ liệu cá nhân và khả năng nhận diện các nguy cơ lừa đảo trên không gian mạng.
Đầu tư cho công dân số, xét đến cùng, chính là đầu tư cho nguồn nhân lực, cho thị trường trong nước và cho năng lực phát triển dài hạn của nền kinh tế.
Being Digital – Góp phần xây dựng công dân số toàn diện và bao trùm
Từ nhận thức về vai trò trung tâm của con người trong chuyển đổi số, Viện Sáng tạo và Chuyển đổi số (VIDTI) đang triển khai Chương trình Being Digital, hướng tới mục tiêu góp phần xây dựng công dân số toàn diện và bao trùm.
Điểm cốt lõi trong cách tiếp cận của chương trình nằm ở chính khái niệm “Being Digital” – không chỉ sử dụng công nghệ số, mà từng bước hình thành năng lực sống, làm việc và phát triển trong môi trường số.
Nếu trang bị một công cụ số có thể thực hiện trong thời gian ngắn, thì hình thành tư duy số, kỹ năng số và thói quen số là quá trình lâu dài, đòi hỏi sự đồng hành, hướng dẫn và hỗ trợ liên tục.
Với định hướng đó, Being Digital hướng tới thúc đẩy khả năng tiếp cận và ứng dụng công nghệ trong đời sống, sản xuất, kinh doanh và sử dụng dịch vụ công; đặc biệt quan tâm đến những nhóm chủ thể đông đảo của nền kinh tế như doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh và người dân.
Một hộ kinh doanh không chỉ cần biết bán hàng trên nền tảng số mà còn cần hiểu về thanh toán số, quản lý dữ liệu khách hàng và bảo mật thông tin. Một hợp tác xã không chỉ cần có gian hàng trực tuyến mà còn cần năng lực quản trị và kết nối thị trường bằng công nghệ. Một người dân không chỉ cần được hướng dẫn cài đặt ứng dụng mà phải có khả năng chủ động sử dụng dịch vụ công, y tế, giáo dục và các tiện ích số khác.
Từ góc độ đó, Being Digital hướng tới kết nối tri thức, công nghệ, doanh nghiệp cung cấp giải pháp và cộng đồng người sử dụng, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa sự phát triển của công nghệ với năng lực ứng dụng trong thực tiễn.
Tuy nhiên, hiệu quả của những chương trình như Being Digital không nên chỉ được đánh giá bằng số lượng hội nghị hay người tham dự, mà quan trọng hơn là những thay đổi thực chất về năng lực và hành vi số của người dân.
Chuyển đổi số chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đo bằng những giá trị cụ thể mà nó mang lại cho con người.
Mỗi công dân số – Một động lực phát triển quốc gia
Hưởng ứng Ngày Công dân số Việt Nam 15/10, điều cần lan tỏa không chỉ là tinh thần tham gia chuyển đổi số, mà còn là nhận thức về trách nhiệm và cơ hội của mỗi người dân trong kiến tạo tương lai số đất nước.
Xây dựng công dân số không thể là nhiệm vụ riêng của một bộ, ngành hay tổ chức, mà phải có sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục, viện nghiên cứu, tổ chức xã hội và cộng đồng.
Nhà nước kiến tạo thể chế, phát triển hạ tầng và bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng. Doanh nghiệp cung cấp sản phẩm, dịch vụ và giải pháp công nghệ. Các cơ sở giáo dục, nghiên cứu và tổ chức xã hội góp phần phổ cập tri thức, phát triển kỹ năng và hỗ trợ người dân thích ứng với môi trường số.
Trong đó, những chương trình như Being Digital của VIDTI có thể góp phần kết nối nguồn lực xã hội, đưa tri thức và công nghệ đến gần hơn với cộng đồng, đặc biệt là những nhóm người dân còn gặp khó khăn trong quá trình chuyển đổi số.
Nhưng trên hết, mỗi người dân phải trở thành chủ thể chủ động của tiến trình ấy. Họ không chỉ là người sử dụng sản phẩm công nghệ mà còn phải có khả năng lựa chọn, sáng tạo và tham gia định hình những dịch vụ số phục vụ chính cuộc sống của mình.
Một Chính phủ số hiện đại cần những công dân có khả năng tương tác số. Một nền kinh tế số năng động cần những công dân có năng lực sản xuất, kinh doanh và sáng tạo trên môi trường số. Một xã hội số nhân văn cần những công dân có văn hóa số và trách nhiệm số.
Ngày Công dân số Việt Nam 15/10 vì thế cần trở thành lời nhắc nhở về mục tiêu đưa chuyển đổi số đến từng người dân, từng gia đình, từng cộng đồng; không chỉ tạo ra những nền tảng hiện đại mà còn hình thành năng lực sử dụng và làm chủ những nền tảng ấy.
Đối với VIDTI, tinh thần đó cũng chính là định hướng xuyên suốt của Chương trình Being Digital: Góp phần xây dựng công dân số toàn diện và bao trùm.
Bởi tương lai số của Việt Nam không chỉ được quyết định bởi tốc độ phát triển công nghệ, mà còn bởi khả năng biến công nghệ thành tri thức, kỹ năng, cơ hội và giá trị phát triển cho hàng triệu người dân. Khi mỗi công dân có thể làm chủ công nghệ, mỗi cộng đồng được tham gia và hưởng lợi từ chuyển đổi số, đó chính là nền tảng vững chắc để xây dựng một quốc gia số phát triển, bao trùm và thịnh vượng./.